Cùng Giải Đáp Những Vướng Mắc Của Doanh Nghiệp Do VCCI Gửi

vuong-mac-doanh-nghiep-do-vcci-gui

Dịch vụ giấy phép kinh doanh tại Biên Hòa

Câu 1: (Công ty CP Thiết bị và Dịch vụ MRO)

Thủ tục thông quan cho các hàng hoá có điều kiện (giấy phép phụ) không rõ ràng.

Trả lời:

Nội dung câu hỏi của Công ty không nêu cục thể trường hợp thông quan cho loại hàng hoá nào, xuất khẩu hay nhập khẩu, vì vậy đối với câu hỏi trên, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:

Khi làm thủ tục hải quan cho hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, cơ quan Hải quan phải tuân thủ các chính sách quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá do Chính phủ, Bộ/ngành quản lý chuyên ngành ban hành. Cụ thể, những trường hợp hàng hoá xuất khẩu/nhập khẩu theo quy định phải có Giấy phép an toàn thực phẩm, Giấy chứng nhận chất lượng hàng hoá trước khi thông quan thì cơ quan Hải quan chỉ thực hiện thông quan hàng hoá sau khi doanh nghiệp xuất trình được các loại giấy tờ trên.

Câu 2. (Tổng công ty Công nghiệp ô tô Việt Nam).

Doanh nghiệp có trụ sở tại Hà Nội, các nhà máy sản xuất đặt tại Bắc Giang, Hưng Yên, Hà Nội. Doanh nghiệp có đề nghị được làm thủ tục nhập khẩu tại 1 Cục Hải quan để tiện theo dõi, quyết toán (Cục Hải quan Hà Nội), tuy nhiên Cục Hải quan Hà Nội không xác nhận các địa điểm nhà máy tại Bắc Giang, Hưng Yên đủ điều kiện kiểm hoá tại Hà Nội sản xuất với lý do khác địa bàn dẫn đến việc doanh nghiệp phải làm thủ tục hải quan tại 3 Cục Hải quan khác nhau, hàng năm quyết toán 3 lần.

Trả lời:

Khi làm thủ tục hải quan, doanh nghiệp được phép đăng ký tại Cục Hải quan phù hợp với địa bàn của doanh nghiệp (Cục Hải quan Hà Nội). Việc doanh nghiệp có nhà máy ở tỉnh Hưng Yên thuộc địa bàn quản lý của Cục Hải quan Hải Phòng và tỉnh Bắc Giang thuộc địa bàn quản lý của Cục Hải quan Bắc Ninh. Do vậy, Cục Hải quan Hà Nội sẽ không công nhận địa điểm kiểm tra hàng hoá tại các địa bàn khác quản lý được.

Câu 3. (Công ty CP Tập đoàn DP và TM SOHACO)

Vướng mắc trong khâu huỷ tờ khai,bù trừ thuế sang tờ khai khác vì khai nhầm mã địa điểm lưu kho chờ thông quan dự kiến. Vướng mắc với trường hợp hàng FOC phải mở tờ khai phi mậu dịch và kiểm hoá 100% lô hàng.

Trả lòi:

Doanh nghiệp không nêu rõ vướng mắc với trường hợp hàng FOC (biếu, tặng) phải mở tờ khai phi mậu dịch và kiểm hoá 100% lô hàng nên Tổng cục Hải quan không có đầy đủ cơ sở để trả lời. Theo căn cứ quy định tại khoản 2, Điều 73, Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày 09/12/2013 của BTC và Điều 6, Quyết định số 3125/QĐ-TCHQ ngày 28/12/2012 của TCHQ thì hàng hoá nhập khẩu phi mậu dịch là quà biếu, tặng thuộc đối tượng phải kiểm tra thực tế, theo đó, hính thức, mức độ kiểm tra thực tế do lãnh đạo Chi cục Hải quan quyết định.

Câu 4. (Công ty TNHH  SX Tân Hùng Cơ).

Thời gian trích lục tờ khai quá lâu (tờ khai mới xong phần thủ tục, chưa nhận hàng cần trích lục tờ khai để hải quan công đối chiếu). Tờ khai doanh nghiệp đã khai nhưng chưa làm thủ tục nhận hàng, nay khai thì huỷ tiền thuế vẫn bị treo nợ trên hệ thống nên không giải quyết tờ khai mới được, trong khi thực hiện thủ tục huỷ tại hải quan lại mất nhiều thời gian. Thời gian nhận hàng chậm vì cảng thường xuyên quá tải, nhất là sau những ngày nghỉ dài ngày của Hải quan.

Trả lời:

- Tổng cục Hải quan ghi nhận, cải tiến khâu giám sát để việc xác nhận lấy hàng của doanh nghiệp tại cảng nhanh hơn. Hiện nay, Tổng cục Hải quan đã nghiên cứu áp dụng mã vạch và sẽ triển khai thí điểm rỗng rãi trong thời gian tới để giải quyết giảm thời gian tại khâu giám sát.

- Việc huỷ tờ khai và chuyển thuế, Tổng cục Hải quan đã có công văn số 4613/TCHQ-VNACCS ngày 26/4/2014 hướng dẫn cụ thể.

- Về việc giải quyết thủ tục hải quan những ngày lễ (30/4, 01/5,02/9,…) hiện cơ quan Hải quan và Cảng vụ đã phối hợp vẫn làm thủ tục cho các doanh nghiệp bình thường, nội dung này đã được quy định tại Luật Hải quan năm 2014.

Câu 5. (Công ty OROM).

Đề nghị cho biết quy định về kiểm hoá ngoài giờ là đến mấy giờ trong ngày và khi nào hàng phải kéo xướng bãi tập kết hàng hoá để kiểm tra thực tế hàng ngày. Khi loai định mức thì chứng từ C/O tại sao vẫn yêu cầu cung cấp bảng định mức hải quan?

Trả lời:

Căn cứ Điều 19 Luật Hải quan 2001, Luật sửa đổi bổ sung năm 2005 thì thời hạn công chức Hải quan hoàn thành kiểm tra thực tế hàng hoá như sau: (i) Chậm nhất là 8h  làm việc đối với lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu áp dụng hình thức kiểm tra thực tế một phần hàng hoá theo xác suất; (ii) Chậm nhất là 2 ngày làm việc đối với lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu áp dụng hình thức kiểm tra thực tế toán bộ hàng hoá. Trong trường hợp áp dụng hình thức kiểm tra thực tế toàn bộ hàng hoá mà lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu có ố lượng lớn, việc kiểm tra phức tạp thì có thể gia hạn thời hạn kiểm tra nhưng không quá 8 giờ làm việc.

Căn cứ Điều 23, Luật Hải quan năm 2014 thì việc kiểm tra thực tế hàng hoá chậm nhất là 8 giờ làm việc kể từ thời điểm người khai hải quan xuất trình đầy đủ hàng hoá cho cơ quan Hải quan. Trường hợp hàng hoá thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành thì thời hạn hoàn thành việc kiểm tra thực tế hàng hoá được tính từ thời điểm nhận được kết quả kiểm tra chuyên ngành theo quy định. Trong trường hợp lô hàng có số lượng lớn, nhiều chủng loại hoặc việc kiểm tra phức tạp thì có thể gia hạn thời hạn kiểm tra nhưng không quá 2 ngày làm việc. Cơ quan Hải quan thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hoá vào ngày lễ, ngày nghỉ và ngoài giờ làm việc để đảm bảo kịp thời việc xếp dỡ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, việc xuất cảnh, nhập cảnh của hành khách, phương tiện vận tải hoặc trên cơ sở đề nghị của người khai hải quan và phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn hoạt động hải quan.

Câu 6.

Đối với hàng gia công sản xuất kinh doanh, việc đăng ký nguyên liệu định mức… rồi mới được thanh khoản tài khoản gây tốn nhiều thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.

Trả lời:

Theo Luật Hải quan 2014 không yêu cầu doanh nghiệp phải thông báo định mức cho cơ quan Hải quan. Hiện nay, Bộ Tài chính đang xây dựng Nghị định, Thông tư hướng dẫn Luật Hải quan, theo đó, doanh nghiệp không phải thông báo định mức cho cơ quan  Hải quan, thực hiện quyết toán nguyên vật liệu theo hình thức nhập – xuất – tồn, lưu định mức tại doanh nghiệp và xuất trình khi có yêu cầu.

Câu 7. (Công ty TNHH IVORY Việt Nam Thanh Hoá, Tổng công ty Khánh Việt).

Mẫu mới tờ khai hải quan quá dài và phức tạp, cần điều chỉnh.

Mẫu tờ kkhai rườm rà đối với lô hàng có nhiều mặt hàng, nhiều thông tin cần thiết không được thể hiện rõ trên tờ khai.

Trả lời:

Tổng cục Hải quan ghi nhận ý kiến của doanh nghiệp để hiệu chỉnh lại phần mềm VNACCS.

Câu 8.

Có sự chồng chéo giữa thủ tục thuế và hải quan khi giải quyết hàng xuất khẩu thuộc danh mục cần chứng nhận kiểm lâm.

Trả lời:

Nội dung câu hỏi không rõ, tuy nhiên, đối với các mặt hàng lâm sản xuất khẩu thì ngoài bộ hồ sơ hải quan theo quy định tại Điều 12 Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày 10/9/2013 hoặc theo Điều 8 Thông tư số 22/2014/TT-BTC ngày 14/2/2014 của Bộ Tài chính, thì doanh nghiệp còn phải xuất trình bộ hồ sơ lâm sản hợp pháp theo quy định tai Thông tư số 1/2012/TT-BTC ngày 4/1/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản.

Đề nghị doanh nghiệp cần nêu rõ, cụ thể sự chồng chéo giữa thủ tục thuế và thủ tục hải quan khi làm thủ tục xuất khẩu các mặt hàng lâm sản để cơ quan Hải quan có cơ sở xem xét, giải quyết vướng mắc liên quan.

Câu 9. (Tổng công ty Khánh Việt).

Việc giám định mã số cho vật tư (do doanh nghiệp hoặc cơ quan Hải quan yêu cầu) còn chậm.

Trả lời:

Đề nghị doanh nghiệp phản ánh nội dung cụ thể hơn và làm rõ việc giám định hàng hoá chậm là do khâu nào để cơ quan Hải quan có cơ sở xem xét, giải quyết vướng mắc liên quan.

Câu 10. (Doanh nghiệp Tư nhân Thuý Thanh).

Đăng ký địa điểm kiểm tra lại kho công ty vẫn chưa được công nhận do địa điểm nhà máy ở Quảng Nam, địa điểm đăng ký kinh doanh ở Đà Nẵng.

Trả lời:

Đối với địa điểm kiểm tra hàng hoá tại chân công trình hoặc kho của công trình, nơi sản xuất, nếu đảm bảo điều kiện theo hướng dẫn tại Khoản 8, Điều 63 Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày 10/9/2013 của Bộ Tài chính, đề nghị Công ty liên hệ với Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam để làm thủ tục công nhận.

Câu 11. (Công ty VASTOCO GARMENTS).

Tờ khai luồng đỏ đổi số hải quan cảng làm khó.

Trả lời:

Nội dung câu hỏi không rõ ràng, đề nghị doanh nghiệp nêu rõ vướng mắc, đơn vị cụ thể để Tổng cục Hải quan có cơ sở trả lời.

Câu 12. (Công ty CP ENTEC Kỹ thuật Năng lượng)

Vướng mắc về việc áp mã HS cho mặt hàng biến dòng và máy biến điện áp đo lường. Doanh nghiệp đã làm công văn lên Vụ chính sách thuế Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan nhưng chưa có câu trả lời cuối cùng.

Trả lời:

Về vấn đề doanh nghiệp nêu, Bộ Tài chính dự kiến xử lý như sau:

- Sửa Danh mục Hàng hoá XNK Việt Nam (Thông tư 156/2011/TT-BTC) theo hướng sẽ đưa mặt hàng máy biến dòng điện cùng máy biến áp (gọi chung là Máy biến điện bao gồm cả biến điện áp và biến dòng điện) sử dụng điện môi lỏng, dùng cho thiết bị đo lường, có công suất danh định không quá 5 KVA vào mã số 8504.21.10 theo đúng bản chất của hàng hoá, phù hợp với bản tiếng Anh do trước đây dịch sang tiếng Việt có sai xót.

- Về mức thuế: xây dựng Biểu thuế NK ưu đãi năm 2012 có hiệu lực tư 1/1/2015 theo hướng:

+ Đưa mặt hàng máy biến dòng điện, máy biến điện áp sử dụng điện môi lỏng, dùng cho thiết bị đo lường có công suất danh định không quá 5 KVA theo mã số 8504.21.10 theo Danh mục Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam sửa đổi.

+ Mức thuế nhập khẩu ưu đãi: xây dựng mức thuế phù hợp giữa máy biến điện áp và máy biến dòng điện sử dụng điện môi lỏng, dùng cho thiết bị đo lường trên cơ sở kiến nghị của doanh nghiệp, hiệp hội và Bộ Công thương.

          Câu 13. (Công ty CP Cao su Tây Ninh).

Thời gian nộp thuế xuất khẩu mặt hàng cao su nên áp dụng từ 15-30 ngày (hiện tại là nộp ngay).

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 20 Thông tư 128/2013/TT-BTC thì: “Đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 42 Luật Quản lý thuế được sửa đổi, bổ sung tại khoản 11 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13 người nộp thuế phải nộp thuế trước khi thông quan hoặc giải phóng hàng.

Trường hợp được tổ chức tín dụng bảo lãnh số thuế phải nộp (thời hạn bảo lãnh tối đa là 30 ngày, kể từ ngay đăng ký tờ khai hải quan) và đáp ứng đủ điều kineje quy định tại khoản 2 Điều 21 Thông tư này, thì thời hạn nộp thuế là thời hạn bảo kanhx nhưng trong thời gian bảo lãnh phải nộp tiền chậm nộp kể từ ngày thông quan hoặc giải phóng hàng đến ngày thực nộp thuế. Tiền chậm nộp thực hiện theo quy định tại Điều 106 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 và hướng dẫn tại Điều 131 Thông tư này”.

Theo quy định trên, việc nộp thuế xuất khẩu mặt hàng cao su thực hiện trước khi thông quan hoặc giải phóng hàng. Đề nghị Công ty thực hiện theo đúng quy định.

Câu 14. (Công ty TNHH Thành đạt Nguyễn Gia)

Hạt điệu theo Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 3/12/2013 quy định không chịu thuế GTGT hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, tháng 4/2014 công ty nhập khẩu về phải đóng 10% thuế VAT hàng nhập khẩu. Như vậy nộp thừa, nhưng cơ quan Hải quan chưa giải quyết việc hoàn thuế trên do thu sai quy định.

Trả lời:

Tại khoản 1 Điều 4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT là: “sản phẩm trồng trọt (bao gồm cả sản phẩm rừng trồng), chăn nuôi, thuỷ sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu.

Các sản phẩm mới qua sơ chế thông thường là sản phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, xay, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, tách hạt, tách cọng, cắt, ướp muối, bảo quản lạnh (ướp lạnh, đông lạnh). Bảo quản bằng khí sunfuro, bảo quản theo phương thức cho hoá chất để tránh thối rữa, ngâm trong dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản khác và các hình thức bảo quản thông thường khác”.

- Tại khoản 3 Điều 4 Thông tư số 83/2014/TT-BTC quy định: “Thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm trồng trọt (các sản phẩm cây trồng, sản phẩm từ cây trồng); sản phẩm chăn nuôi (sản phẩm vật nuôi, sản phẩm từ vật nuôi, bao gồm cả nội tạng và phụ phẩm thu được sau giết mổ khác của động vật); lâm sản, thuỷ sản, hải sản, (có nguồn gốc tự nhiên và nuôi trồng) tại các chương 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 18 của Biểu thuế giá trị gia tăng ban hành kèm theo Thông tư này thực hiện nhu sau:

a) Trường hợp là các sản phẩm chưa qua chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, bao gồm các sản phẩm: mới được làm sạch, phơi, sấy khô, tách hạt, tách cọng, cắt, xay (trừ sản phẩm đã xay thuộc Chương 9, 10, 11, 12 của danh mục Biểu thuế giá trị gia tăng ban hành kèm theo Thông tư này), băm, bóc vỏ, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, vỡ mảnh, đánh bóng, hạt, hồ hạt, đóng hộp kín khí hoặc được bảo quản thông thường như bảo quản lạnh (ướp lạnh, đông lạnh), bảo quản bằng khí sunfuro, bảo quản theo phương thức cho hoá chất để tránh thối rửa, bảo quản bằng muối (ướp muối, ngâm nước muối), bảo quản ngâm trong dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản khác hoặc hình thức bảo quản thông thường khác, thực hiện theo mức thuế suất (*, 5) ghi cụ thể tại Biểu thuế giá trị gia tăng ban hành kèm theo Thông tư này, trừ các trường hợp được nêu tại điểm b khoản này.”

Trường hợp mặt hàng hạt điều là sản phẩm trồng trọt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường thì thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT khâu nhập khẩu.

Trường hợp nộp thừa thuế GTGT thì xử lý hoàn thuế GTGT khâu nhập khẩu theo hướng dẫn tại công văn số 5554/TCHQ-TXNK ngày 19/5/2014 và công văn cố số 6275/TCHQ-TXNK ngày 30/5/2014 của Tổng cục Hải quan hướng dẫn Cục Hải quan các tỉnh, thành phố xử lý hoàn thuế GTGT hàng nhập khẩu nộp nhầm, nộp thừa, công văn số 1350/TCT-KK ngày 23/4/2014 của Tổng cục Thuế.

Câu 15. (Công ty CP DP DL Pharmedic)

Nộp nhầm thuế và xin hoàn thuế. Cục thuế thông báo Chi cục Hải quan sẽ có trách nhiệm hoàn thuế, Chi cục Hải quan thông báo dựa vào thời gian trên tờ khai thì Cục Thuế sẽ là người có trách nhiệm hoàn thuế. Pharmedic đã làm công văn yêu cầu Chi cục Hải quan trả lời cục thể. Nộp công văn 22/7/2014 đến nay chưa trả lời. Công văn số 1350/TCT-KK ngày 23/4/2014 chưa rõ ràng về chức năng hoàn thuế giữa cục thuế và Chi cục Hải quan (hoàn trả khác năm ngân sách).

Trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 7 Thông tư số 150/2013/TT-BTC ngày 29/10/2013, có hiệu lực từ ngày 1/1/2014, sau khi trình Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế đã có công văn số 1350/TCT-KK ngày 23/4/2014 gửi các Cục Thuế địa phương và Tổng cục Hải quan đã có công văn số 5554/TCHQ-TXNK ngày 19/5/2014 gửi Cục Hải quan các tỉnh, thành phố hướng dẫn việc hoàn thuế GTGT hàng nhập khẩu nộp nhầm, nộp thừa. Tuy nhiên, chưa đề cập đến thời điểm áp dụng Thông tư số 150/2013/TT-BTC nêu trên, chưa thống nhất thẩm quyền hoàn thuế giữa Hải quan và cơ quan thuế. Hiện nay, Tổng cục Hải quan đang trao đổi với Tổng cục Thuế và các đơn vị liên quan để trình Bộ Tài chính ký văn bản hướng dẫn thống nhất cho các Cục Hải quan và Cục Thuế địa phương.

Câu 16. (Công ty TNHH Thép Vina Kyoei, Vũng Tàu).

Theo luật thuế mới, doanh nghiệp phải nộp thuế khi mở tờ khai hải quan loại hình NKDSX, tuy nhiên đối với mặt hàng như quặng, phôi thép, doanh nghiệp không thể xác định chính xác được lượng hàng thực nhập. Do vậy, nhập về, lượng hàng này có thể nhiều hơn hoặc ít hơn lượng hàng đã nộp thuế. Trong trường hợp lượng hàng nhập khẩu nhiều hơn thì phải đóng thêm phần chậm nộp tiền.

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 23, khoản 1 Điều 28 Thông tư 128/2013/TT-BTC quy định về nộp thuế đối với trường hợp phải giám định, phân tích, phân loại hàng hoá thì:

-“Đối với trường hợp phải có giám định, phân tích, phân loại hàng hoá về tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng, lượng hàng, lượng hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tình trạng cũ, mới của hàng hoá nhập khẩu…) thì người nộp thuế thực hiện nộp thuế theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Thông tư này.

-“1. Hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu nhưng phải xác định giá, trưng cầu giảm định, phân tích, phân loại để xác định chính xác số thuế phải nộp được giải phóng hàng sau khi chủ hàng đã thực hiện các nghĩa vụ về thuế hoặc được tổ chức tín dụng bảo lãnh số tiền thuế trên cơ sở tự kê khai, tính thuế.

Số tiền thuế chênh lệch tăng (nếu có) sau khi có kết quả xác định giá, phân loại người nộp thuế phải nộp tiền chậm nộp theo quy định tại Điều 106 Luật Quản lý thuế được sửa đổi, bổ sung tại khoản 22 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13 và hướng dẫn tại Điều 131 Thông tư này.

Theo quy định nêu trên, đối với hàng hoá phải giám định để xác định lượng hàng thì người nộp thuế phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế trên cơ sở tự kê khai tính thuế hoặc phải có bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với số tiền thuế phải nộp. Số tiền thuế chênh lệch (nếu có) thì người nộp thuế phải nộp tiền chậm nộp theo đúng quy định.

Câu 17. (Công ty TNHH Đầu tư và Thương mại Tổng hợp Tân Gia Bảo – Bình Định)

Đề nghị xem xét áp dụng thuế suất đối với mặt hàng than gỗ trồng rừng thuộc mã số hàng hoá 4402.90.90

Trả lời:

Về vấn đề này, Bộ Tài chính dự kiến xử lý theo hướng:

Ngày 27/8/2014, Công ty mở tờ khai số 300110275201 tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Quy Nhơn thuộc Cục Hải quan tỉnh Bình Định. Các tiếu chí tại Giấy chứng thư giám định số 13630021 ngày 26/6/2013 do Tổng công ty công nghệ năng lượng đầu khí Việt Nam cấp phù hợp với các tiêu chí quy định tại Khoản 4 Điều 2 Thông tư số 164/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013, cụ thể hàm lượng tro 1,66% hàm lượng carbon cố định 86,24%, nhiệt lượng 8.120.99 Kcal/kg, hàm lượng lưu huỳnh 0.15%, độ bốc 7,76%. Tuy nhiên Giấy giám định này lại được cấp từ ngày 26/6/2013 trong khi lô hàng làm thủ tục xuất khẩu ngày 27/8/2014, do vậy không đáp ứng điều kiện quy định “Mẫu hàng hoá để phân tích, phải được lấy từ chính lô hàng cần phân tích”.

Lô hàng than gỗ rừng trồng xuất khẩu của công ty chỉ được hưởng mức thuế suất khẩu 5 theo quy định tại Khoản 4 Điều 2 Thông tư số 164/2013/với điều kiện đáp ứng quy định về tiêu chuẩn thể hiện qua giám định chỉ tiêu, chất lượng… của từng lô hàng cụ thể.

Trường hợp lô hàng xuất khẩu không đáp ứng các tiêu chuẩn quy định tại Khoản 4 Điều 2 Thông tư số 164/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013 thì phải áp dụng mức thuế suất thuế xuất khẩu của các mặt hàng than gỗ loại khác, mã hàng 4405.90.90 là 10%.

Câu 18. (Công ty TNHH MTV Con đường Xanh)

Thủ tục hải quan (mở tờ khai NSXXK) cho lô hàng Free of charge: thuế GTGT tính như thế nào, có cần phải nộp thuế trước và được hoàn lại sau khi nộp đủ hồ sơ không?

Trả lời:

Đề nghị Công ty nêu cụ thể về “lô hàng Free of charge” để Tổng cục Hải quan có cơ sở hướng dẫn về thuế khâu nhập khẩu của lô hàng Công ty nêu; hoặc nghiên cứu quy định tại Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11, Nghị định 87/2010/NĐ-CP ngày 13/10/2010 của Chính phủ, Thông tư 128/2013/TT-BTC ngày 10/9/2013 của Bộ Tài Chính; Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT 31/2013/QH13 và các văn bản hướng dẫn thi hành các Luật này; hoặc liên hệ với cơ quan Hải quan nơi mở tờ khai để được hướng dẫn cụ thể.

Câu 19. (Tổng công ty Giấy Việt Nam, Công ty TNHH Yen of London, Công ty TNHH Giầy Sun Jade Việt Nam, Tổng công ty Giầy Việt Nam, Công ty Dược phẩm Vĩnh Phúc, Công ty TNHH Giầy Rollsport Việt Nam).

1. Doanh nghiệp nộp thuế cho tở khai, tuy nhiên có những tờ khai 15 ngày sau Hải quan tiếp nhận vẫn bảo tiền thuế chưa nộp tại Kho bạc?

2. Đã nội thuế nhập khẩu cho tờ khai SXXK nhưng thông tin đã nộp thuế cập nhật rất chậm trên mạng hải quan.

3. Vướng mắc trong việc chuyển đổi phần mềm khai báo hải quan từ Ecuc4 sang VINACCS (loại hình gia công). Phần mềm khai báo hải quan phiên bản Fcusk5 có nhiều lỗi chưa khắc phục được.

4. Hiện nay, hệ thống thuế và Hải quan với hệ thống Ngân hàng chưa được kết nối online trực tiếp. Các tờ khai nhập khẩu đều phải nộp thuế trước khi giải phóng hàng. Công ty nộp thuế hôm nay qua ngân hàng BIDV nhưng nhanh nhất phải 2 ngày sau trên hệ thống của Hải quan mới nổi tiền thuế. Điều này gây mất thời gian của doanh nghiệp trong việc thông quan lô hàng.

Đặc biệt có rất nhiều trường hợp sau: Công ty chúng tôi mở tờ khai nhập khẩu số AABB ở Hải quan KVII – TP. Hải Phòng trong tháng 5/2014. Công ty chúng tôi đã nộp thuế ngay và đầy đủ cho tờ khai này và đã thông quan lô hàng. Tháng 8/2014, Công ty mở tờ khai tại Chi cục Hải quan hàng không ICD Mỹ Đình thì Hải quan thông báo Công ty chúng tôi còn nợ thuế tờ khai AABB này và yêu cầu chúng tôi phải giải quyết xong tờ khai ở Hải Phòng bằng cách xin xác nhận của Hải quan Hải Phòng này thì mở được mở tờ khai ở đây, mặc dù Công ty chúng tôi đã xuất trình các giấy tờ chứng minh công ty đã nộp thuế.

Vậy Công ty chúng tôi lại phải xin xác nhận tại Hải quan Hải Phòng về việc nộp thuế này. Công ty chúng tôi hỏi cán bộ Hải quan thì được biết đây là lỗi mạng, lỗi hệ thống doanh nghiệp đành phải chịu. Doanh nghiệp bị mất thời gian, công sức về việc này.

Vậy là cơ quan Hải quan chưa kết nôi trực tiếp với Ngân hàng, các Chi cục Hải Quan, các cục Hải quan cũng chưa kết nối với nhau?

Nếu như đội thuế của Chi cục Hải quan có số điện thoai, email của nhau thì chỉ cần một cuộc điện thoại xác nhận về vấn đề nghị thì doanh nghiệp được thuận lợi hơn nhiều. Lúc đó cơ quan Hải quan mới thực sự phục vụ doanh nghiệp.

Trả lời:

1. Trường hợp doanh nghiệp đã nộp thuế, thông tin trên giấy nộp tiền hợp lệ, tuy nhiên việc chuyển chứng từ giữa hệ thống ngân hàng KBNN chậm, thông tin về chứng từ nộp thuế chưa có trên công thông tin điện tử của cơ quan Hải quan, do vậy, vẫn treo nợ trên hệ thống kế toán của ngành Hải quan.

2. Đề nghị doanh nghiệp nêu cụ thể thông tin về tờ khai vướng mắc và phản ánh với cơ quan Hải quan nơi nộp tiền để cơ quan Hải quan phối hợp với KBNN và Ngân hàng liên quan để giải quyết vướng mắc.

3. Nguyên nhân vướng mắc do phần mềm đầu cuối của doanh nghiệp, đề nghị công ty nêu rõ vướng mắc và tên phần mềm chính xác để Tổng cục Hải quan liên hệ với công ty xây dựng phần mềm kiểm tra, xử lý.

4. Tổng cục Hải quan đã kết nối trực tiếp với hệ thông của Ngân hàng BIDV với mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp trong việc nộp thuế, đề nghị đơn vị cung cấp thông tin đầy đủ về số tờ khai để Tổng cục Hải quan kiểm tra làm rõ với ngân hàng BIDV.

Câu 20. (Công ty TNHH MTV Cao su Bình Long).

- VNACCS/VCIS còn rườm rà, quá nhiều tiêu chí cần cải tiến phù hợp hơn với thực tiễn.

- Hiện nay, doanh nghiệp đang vướng mắc về vấn đề thanh khoản của chương trình VNACCS/VCIS nhưng công chức Hải quan chưa thể đáp ứng được vì chương trình thông quan điện tử mới này còn khó đối với Hải quan và doanh nghiệp thì phải chờ giải quyết dẫn đến nợ thuế phát sinh. Yêu cầu cơ quan Hải quan có hướng giải quyết sớm.

Trả lời:

- Về chỉ tiêu tờ khai: Hiện nay số lượng tiêu chí trên tờ khai VNACCS bằng số lượng tiêu chí khai trước đây trên hệ thống eCustoms4.

- Về hỗ trợ thanh khoản: Tổng cục Hải quan đang hỗ trợ thanh khoản cho rất nhiều doanh nghiệp, đề nghị đơn vị nêu rõ hồ sơ thanh khoản vướng mắc và đơn vị Hải quan tiếp nhận xử lý hồ sơ để Tổng cục Hải quan hỗ trợ.

Câu 21. (Cty CP Vinatex Đà Nẵng, Cty TNHH DACOTEX Hải Âu xanh)

- Thanh khoản điện tử chậm, dữ liệu không đồng bộ.

- Vướng mắc về các chứng từ kèm theo, thủ tục khi kiểm hoá hộ.

Trả lời:

- Về việc xây dựng văn bản mới:

Trong quá trình tham mưu cho các cấp có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung hoặc thay thể các văn bản quy phạm pháp luật, Tổng cục Hải quan luôn chủ động, tích cực lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức hữu quan và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản theo hình thức thông qua Trang thông tin điện tử của Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Gần đây, nhiều văn bản liên quan đến lĩnh vực hải quan đã được lấy ý kiến của doanh nghiệp như: dự thảo Nghị định quy định việc xử lý vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan và dự thảo Thông tư quy định chi tiết thi hành Nghị định, dự thảo Luật Hải quan (sửa đổi)…

Các dự thảo nêu trên được đăng trên các Trang thông tin điện tử ít nhất là 60 ngày, tuy nhiên nhưng Tổng cục Hải quan không nhận được ý kiến tham gia trục tiếp của các doanh nghiệp. Cơ quan Hải quan chỉ nhận được phản hồi của một số doanh nghiệp thông qua Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Các ý kiến của doanh nghiệp đều được cơ quan Hải quan nghiên cứu, xem xét tiếp thu trong quá trình chỉnh lý dự thảo.

Hình thức lấy ý kiến thông qua các Trang thông tin điện tử có ưu điểm về phạm vi tiếp cận (tất cả các tổ chức, cá nhân đều có thể tham gia ý kiến cho dự thảo văn bản), biện pháp đơn giản, thuận tiện (không cần văn bản, đóng dấu…) nên Tổng cục Hải quan trân trọng đề nghị các doanh nghiệp quan tâm hơn nữa đến công tác tham gia ý kiến thông qua Trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo để đảm bảo văn bản mới ban hành phù hợp với thực tế, tránh các vướng mắc xảy ra trong quá trình triển khai thực hiện.

- Về công tác tuyên tuyền về pháp luật hải quan, các thông tư, nghị định mới:

Nhận thực được vị trí, tầm quan trọng của việc cung cấp thông tin, nhận thông tin có liên quan đến chính sách pháp luật về hải quan và quá trình thực thi các quy định pháp luật hải quan giữa cơ quan Hải quan và doanh nghiệp xuất nhập khẩu, ngoài việc thực hiện các quy định chung, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan đã ban hành Quyết định số 1915/QĐ-TCGQ  ngày 17/10/2007 về việc ban hành quy chế công tác tuyên truyền, hỗ trợ cung cấp thông tin cho người khai hải quan, người nộp của cơ quan Hải quan. Theo quy định tại các Quy chế này, các hoạt động hỗ trợ pháp luật về hải quan cho các doanh nghiệp tham gia thủ tục hải quan được thực hiện dưới nhiều hình thức, biện pháp khác nhau như: tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn; cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử của cơ quan Hải quan; hướng dẫn giải đáp cho người khai hải quan trực tiếp tại trụ sở cơ quan Hải quan, tại trụ sở doanh nghiệp, qua điện thoại và bằng văn bản, v.v…

Theo quy định, hàng năm, Cục Hải quan địa phương tổ chức Hội nghị đối thoại với doanh nghiệp định kỳ 3 tháng hoặc 6 tháng một lần; Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) phối hợp với VCCI tổ chức định kỳ 1 lần đối với doanh nghiệp toàn quốc ở 2 khu vực, phía Bắc và phía Nam. Tuy nhiên, số lần tổ chức các hội nghị đối thoại với doanh nghiệp do các cấp Hải quan từ Tổng cục đến Chi cục thực hiện những năm vừa qua nhiều hơn so với quy định. Hình thức, thành phần tham gia đối thoại đa dạng phong phú như: hội nghị với các doanh nghiệp Hàn Quốc, Nhất Bản, Ý, Châu Âu… Tại các Hội nghị đối thoại này, cơ quan Hải quan đều phổ biến các chính sách mới liên quan đến lĩnh vực hải quan được ban hành.

Ngoài ra, khi các chính sách mới liên quan đến lĩnh vực hải quan được ban hành, cơ quan Hải quan thường xuyên phối hợp với VCCI tổ chức tập huấn cho doanh nghiệp để biết và thực hiện. Bên cạnh đó, các tài liệu phổ biến chính sách mới liên quan đến lĩnh vực hải quan đều được đăng tải rộng rãi trên Cổng thông tin điện tử của ngành Hải quan, Báo hải quan. Do đó, đề nghị doanh nghiệp tham gia tích cực, đầy đủ vào các Hội nghị đối thoại, tập huấn cho doanh nghiệp hàng năm do ngành Hải quan tổ chức hoặc truy cập vào Cổng thông tin điện tử hải quan, Báo Hải quan… để kịp thời nắm bắt các chính sách mới được ban hành.

Hiện nay, tại các Chi cục Hải quan đều có Tổ giải quyết vướng mắc để kịp thời giải quyết vướng mắc phát sinh của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu. Do đó, nếu có bất cứ khó khăn vướng mắc nào của doanh nghiệp có liên quan đến việc thực hiện chính sách, thủ tục hải quan… Đề nghị các doanh nghiệp có thể phản ánh trực tiếp đến Tổ giải quyết vướng mắc tại các Chi cục Hải quan nơi doanh nghiệp trực tiếp làm thủ tục hải quan để được hỗ trợ và giải đáp về pháp luật./.

>>Dịch vụ kế toán thuế tại Biên Hòa